Giới thiệu Đối tác ngành Cấp nước và vệ sinh nông thôn (RWSS P)
Đạt được diện bao phủ toàn bộ cho cấp nước và vệ sinh nông thôn là một ưu tiên của chính phủ Việt Nam. Từ năm 1998, các dịch vụ cấp nước và vệ sinh nông thôn của chính phủ chủ yếu được cung cấp thông qua một trong sáu chương trình mục tiêu quốc gia, do chính phủ xây dựng đối với các lĩnh vực được cho là quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Năm 2000, chính phủ đã giới thiệu “Chiến lược Quốc gia cấp nước và vệ sinh nông thôn tới năm 2020” nhằm nâng cao tác động và bền vững cho những đầu tư của chính phủ. Chiến lược quốc gia ra đời nhằm đạt được tỷ lệ 100% dân số nông thôn được tiếp cận với nước sạch và các dịch vụ vệ sinh vào năm 2020. Chiến lược được xây dựng dựa trên nguyên tắc đáp ứng theo nhu cầu; quản lý nước như một nền kinh tế cũng như hàng hoá xã hội; và dựa trên sự ra quyết định và quản lý ở mức độ thích hợp thấp nhất. Chiến lược nhằm thúc đẩy sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân và sự phát triển của những tổ chức dựa vào cộng đồng cho những nhu cầu xác định, lên kế hoạch, vận hành và bảo dưỡng. Cộng đồng được ra quyết định về những loại hình công nghệ ưa thích và thiết lập sự điều hành qua một quá trình lựa chọn công khai. Theo nguyên tắc chung, những người sử dụng có thể cùng góp vốn xây dựng công trình và chi trả chi phí vận hành các công trình cấp nước và vệ sinh. Chương trình mục tiêu quốc gia được xây dựng trên nguyên tắc thực hiện phù hợp với Chiến lược quốc gia.
Lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn ở Việt Nam đang được Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch (Danida), Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (AusAID), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Quĩ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và một số tổ chức Phi chính phủ quốc tế hỗ trợ. Một số chương trình tài trợ hiện đang trong quá trình chuẩn bị, xem xét và chỉnh sửa. Trong đó có chương trình đồng tài trợ giữa AusAID và DANIDA nhằm cấp nguồn vốn trực tiếp hỗ trợ cho Chương trình mục tiêu quốc gia. Những nhà tài trợ khác trong đó có Sida, DFID và Hà Lan đã bày tỏ mối quan tâm hỗ trợ ngành nước đưa ra những cơ chế cải tiến về điều phối ngành và thiết lập năng lực quản lý.
Đánh giá phối hợp chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ về Chiến lược quốc gia đã kết thúc vào tháng 4/2005. Báo cáo đánh giá phân tích tiến trình thực thi chiến lược và những lựa chọn chung của Việt nam nhằm cải thiện tiến trình và hiệu quả. Báo cáo kết luận: mặc dù phương pháp tiếp cận và các mục tiêu của Chiến lược quốc gia vẫn phù hợp, những nguyên tắc chỉ được chương trình mục tiêu quốc gia áp dụng ở mức độ hạn chế. Báo cáo cũng kết luận việc xây dựng ngân sách lớn hơn cho các chương trình cấp nước và vệ sinh nông thôn không phải là vấn đề chính mà ngành đang phải đối mặt. Thất bại trong việc lồng ghép các nguyên tắc của chiến lược quốc gia đã hạn chế tiềm năng đầu tư của người sử dụng trong hoạt động cấp nước và vệ sinh nông thôn. Nếu phương pháp tiếp cận lấy cộng đồng làm trung tâm, phương pháp tiếp cận theo nhu cầu được thực thi một cách đầy đủ, một nguồn lực đầy đủ sẽ được tạo ra nhờ những đóng góp ngày càng tăng từ chính cộng đồng người dân nông thôn.
Căn cứ vào phân tích trên diện rộng, đ ánh giá phối hợp chính phủ Việt Nam đã đưa ra những đề xuất chính sau:
-
Xây dựng kế hoạch chiến lược cho lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn nhằm hỗ trợ thực hiện chiến lược quốc gia trên toàn quốc thông qua xây dựng cơ cấu lập kế hoạch; tách rời quản lý nhà nước và các chức năng cung cấp dịch vụ; và nâng cao năng lực.
-
Xây dựng Chương trình quốc gia như một chương trình kế cận đối với Chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay, bao gồm một chương trình riêng về vệ sinh với hỗ trợ ngân sách riêng và nâng cao năng lực thể chế.
-
Xây dựng một “ngôi nhà” quốc gia cho chương trình quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn như một đơn vị chủ chốt của một cục vụ trực thuộc Bộ NN&PTNT với hai thành phần có quan hệ liên quan nhưng tách biệt về vệ sinh và cấp nước.
-
Thành lập một Uỷ ban giám sát chiến lược và chính sách cấp nước và vệ sinh nông thôn quốc gia.
-
Thiết lập các cơ cấu thực hiện và kế hoạch phi tập trung hoá ở cấp tỉnh và cấp địa phương và thực hiện các chương trình nâng cao năng lực có sự cộng tác.
Những phát hiện và kết luận trong đánh giá phối hợp giữa chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ được hỗ trợ đáng kể bởi những đánh giá của chính phủ về chương trình mục tiêu quốc gia và tạo ra những thảo luận xung quanh các cơ quan chủ chốt trong đó có Văn phòng chính phủ, Bộ KH&ĐT và Bộ NN&PTNT.
Dựa trên cơ sở này, chính phủ xem xét các lựa chọn nhằm nâng cao khả năng và hiệu quả của lĩnh vực cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn và ngày càng quan tâm đến sử dụng phương thức hỗ trợ mới nhằm tối đa tác động của nguồn tài trợ.
Vì vậy, xem xét lựa chọn xây dựng hợp tác hỗ trợ lĩnh vực cấp nước và vệ sinh nông thôn giữa các nhà tài trợ và chính phủ như một cơ chế nhằm điều phối và hài hoà trong việc hỗ trợ áp dụng Chiến lược quốc gia trên toàn quốc và đặc biệt tập trung hơn đối với các hoạt động tiếp theo của những đề xuất trong đánh giá về chương trình mục tiêu quốc gia và đánh giá phối hợp giữa chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ. Thiết lập thể chế và khung chiến lược hợp tác nên được gắn vào cơ cấu tổ chức và khung kế hoạch của chính phủ.
Đề cương này xác định rõ cơ cấu tổ chức và phương pháp tiếp cận được áp dụng nhằm tìm ra các lựa chọn xây dựng hợp tác hỗ trợ lĩnh vực cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đã đề xuất và đi đến thoả thuận về một cơ chế hợp tác để có thể đệ trình tới các đối tác có tiềm năng phê duyệt .
Chi tiết xem Đề cương Nhóm công tác và thiết kế Đối tác
Cập nhật tiến độ xây dựng Đối tác Cuộc họp lần thứ nhất của Nhóm công tác liên Bộ và các nhà tài trợ về xây dựng Đối tác ngành Cấp nước và Vệ sinh Nông thôn đã được tổ chức ngày 10 tháng 6 năm 2005. Tất cả các thành viên của Nhóm công tác liên Bộ và các nhà tài trợ đã tham dự cuộc họp.
TS. Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ NN và PTNT đã tham dự cuộc họp và phát biểu khai mạc. Bộ trưởng nhấn mạnh tầm quan trọng của CN và VSNT trong Kế hoạch 5 năm của Bộ NN và PTNT và nêu rõ cam kết mạnh mẽ của Chính phủ đối với ngành. Bộ trưởng kêu gọi các nhà tài trợ và các Bộ ngành cần tăng cường sự phối hợp thông qua việc hình thành một Đối tác ngành CN và VSNT. Bộ trưởng cũng đặc biệt nhấn mạnh rằng vấn đề vệ sinh sẽ nhận được ưu tiên rất lớn một khi Việt Nam muốn đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ về vấn đề này.
Trong bài trình bày khái quát về cơ sở đề xuất Đối tác và thành lập Nhóm Công tác, TS. Lê Văn Minh, Vụ trưởng Vụ HTQT Bộ NN và PTNT nhấn mạnh rằng Chiến lược Quốc gia về CN và VSNT cần được cập nhật với một kế hoạch hành động, và cần thiết phải cải thiện công tác lập kế hoạch mang tính chiến lược, tăng cường thể chế và điều phối tốt hơn nữa. Do đó giai đoạn tiếp theo của Chương trình Mục tiêu quốc gia về NS và VSNT đang được nghiên cứu xây dựng và một số nhà tài trợ đang trong quá trình xây dựng các chương trình tài trợ mới. Đây là thời điểm thích hợp để hình thành một Đối tác ngành CN và VSNT giữa Bộ và Các nhà tài trợ.
Các đại biểu cũng lắng nghe một số bài trình bày về: Lý do, mục đích và cấu phần của Đối tác; Mối liên hệ giữa qui trình thiết kế Đối tác với việc xây dựng SEDP/FYP và thiết kế Chương trình mục tiêu Quốc gia về Cấp nước vệ sinh nông thôn (Giai đoạn II) và với các chương trình tài trợ mới; Vai trò, trách nhiệm, nội dung, phương pháp làm việc và chương trình làm việc của Nhóm Công tác và Tổ tư vấn; và Đóng góp của Chính phủ VN và cộng đồng các nhà tài trợ trong việc hình thành Nhóm làm việc về Thiết kế Chương trình Cộng tác.
Các đại biểu đã thống nhất các hành động tiếp theo sau: sẽ tiến hành tham vấn với các nhà tài trợ song phương trong tuần tới để thảo luận chi tiết hỗ trợ tài chính như đề xuất; sẽ chuẩn bị các điều kiện cần thiết để huy động chuyên gia quốc tế; sẽ dành riêng một phần kinh phí cho các đầu vào ngắn hạn; Tài trợ của các tổ chức quốc tế sẽ được chuyển qua kênh của ISG; tất cả các bên được đề nghị gửi sơ yếu lý lịch (C.V) của các chuyên gia trong nước cho điều phối viên xây dựng đối tác; và Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (CERWASS) sẽ xem xét cần hỗ trợ gì cho quá trình thiết kế, kể cả về tài chính và nhân lực.
(Trích Biên bản cuộc họp)
Biên bản cuộc họp lần thứ nhất của Nhóm công tác chung về hình thành Đối tác (ngày 10 tháng 6 năm 2005)
Biên bản cuộc họp lần thứ hai của Nhóm công tác chung về hình thành Đối tác (ngày 8 tháng 9 năm 2005)
Biên bản cuộc họp lần thứ ba của Nhóm công tác chung về hình thành Đối tác (ngày 27 tháng 9 năm 2005)
Biên bản cuộc họp lần thứ tư của Nhóm công tác chung về hình thành Đối tác (ngày 14 tháng 10 năm 2005)
Biên bản cuộc họp lần thứ năm của Nhóm công tác chung về hình thành Đối tác (ngày 14 tháng 11 năm 2005)
Văn kiện Quan hê đối tác đã đ phê duyệt (Tiếng việt - Tiếng Anh)
Bản ghi nhớ thành lập Đối tác đã được ký kết (Tiếng việt - Tiếng Anh)
Office: Rural Water Supply and Sanitation Partnership (RWSSP)
Ministry of Agricultural and Rural Development Address: No.10 Nguyen Cong Hoan Street , Ba Dinh District, Hanoi
Room 303-304, Building A8
Tel: 7711420/21/22; Fax: 7711420
Office email: pcu@rwssp.org.vn
website: http://www.rwssp.org.vn/EN/
Các bản tin của Văn phòng Đối tác |